Lịch sử hình thành Phú Quốc

Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, với một lịch sử hình thành vô cùng thú vị, gắn liền với dòng họ Mạc những ngày đầu khai hoang trên mảnh đất này cách nay gần 400 năm. Chúa Nguyền rồi triều Nguyễn có công duy trì hoà bình, ổn định và phát triển vùng đất này trước cho đến khi lục tỉnh Nam Kỳ rơi vào tay Pháp.

Theo trang mạng wikiwand.com thì năm 1671, một người Hoa tên là Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, mang cả gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người lên thuyền rời Phúc Kiến đi về vùng biển phương Nam.

Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, đoàn người của Mạc Cửu đặt chân lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau khi dò hỏi và biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng Chân Lạp, phái đoàn liền tìm đường đến Oudong xin tị nạn, nhưng lúc đó nội bộ Chân Lạp có loạn. Mạc Cửu gặp Nặc Ông Thu (Ang Sur – Jayajettha III) và ở lại hợp tác cho đến năm 1681.

Trong năm 1680, Mạc Cửu đã lập một số ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Hà Tiên, và Cà Mau đã nhanh chóng trở thành thương cảng quan trọng. Có những thôn ấp định cư nằm san sát ở mé biển, khá thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, cũng có thôn ấp ở đất cao dọc theo Giang Thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.

Trở lại với quá trình mở mang vùng đất mới của Mạc Cửu, ông đã lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển như Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som), Sài Mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch Giá) và Phú Quốc (Koh Tral). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm (cảng của người Mán, tức người Khmer), sau đổi thành Căn Khẩu (Căn Kháo hay Căn Cáo). Tiếng đồn về vùng đất phồn thịnh này ngày càng vang xa, do đó lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan đã xin đến đây lập nghiệp.

Kể từ đó nơi đây đã ra đời tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng đất giàu có). Năm 1708, Mạc Cửu bắt đầu liên lạc với Chúa Nguyễn Phúc Chu. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức tổng binh cai trị đất Căn Khẩu.

Tiếp đến vào năm 1724, Mạc Cửu lại một lần nữa dâng toàn bộ đất đai có được và được chúa Nguyễn phong chức đô đốc trấn giữ vùng lãnh thổ này, đồng thời đổi tên vùng Căn Khẩu thành Long Hồ dinh. Cho đến năm 1729, Long Hồ dinh đã nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất ở vùng vịnh Thái Lan.

Năm 1735 Mạc Cửu mất, con của ông là Mạc Sĩ Lân (sau đổi tên thành Mạc Thiên Tứ) được phong làm đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Vì những cống hiến của gia đình họ Mạc, Ninh vương Nguyễn Phúc Trú đã nâng dòng họ Mạc lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh lúc bấy giờ được đổi tên thành trấn Hà Tiên.

Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (bắc Bạc Liêu). Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn vùng lãnh thổ gồm hai phủ Tầm Bôn (thuộc Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để được về Nam Vang cai trị.

Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang Ton II) lên làm vua và được tặng thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông-Nam Chân Lạp gồm Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré Ambel đến làng Peam).

Nói chung, toàn bộ vùng duyên hải bao quanh đảo Phú Quốc. Sau đó, Mạc Thiên Tứ đã dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Thật ra, đây chỉ là những vùng đất hoang, không người Khmer nào sinh sống vì sình lầy và lụt lội quanh năm. Võ vương đã sát nhập tất cả các vùng đất mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.

Năm Đinh Mùi (1787), chúa Nguyễn Ánh lấy lại được đất Hà Tiên từ tay người Xiêm La. Năm 1788, Nguyễn Ánh đem 2 đạo Kiên Giang và Long Xuyên nhập vào dinh Vĩnh Trấn (sau là Vĩnh Long). Chính hòn đảo Phú Quốc này đã cưu mang ông để sau này ông quay lại đất liền thu phục binh lực, đánh bại Tây Sơn, lập ra triều Nguyễn vào năm 1802 và lên ngôi hoàng đế, hiệu Gia Long. Nhưng đến thời nhà Nguyễn, Gia Long (Nguyễn Ánh) lại tách 2 đạo này trả về cho trấn Hà Tiên như cũ.

Thời vua Tự Đức cho đến khi Pháp chiếm Hà Tiên (1847-1867), tỉnh Hà Tiên gồm 1 phủ (là phủ An Biên) với 3 huyện: Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên. Các huyện trước thuộc phủ Quảng Biên (đất Cần Bột (Kampot), Vũng Thơm) trả về cho nước Cao Miên.

Như vậy, tỉnh Hà Tiên nhà Nguyễn nằm kéo dài bên bờ vịnh Thái Lan (biển Tây), suốt từ Cà Mau đến Hà Tiên, có thời kỳ tới tận tỉnh Kampot và thành phố Sihanoukville (Kompong Som) của Campuchia, phía Đông giáp với tỉnh An Giang nhà Nguyễn, phía Tây Bắc, phía Bắc và phía Đông Bắc tiếp giáp Cao Miên.

Trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, xem xét về các địa danh trấn Hà Tiên, Đào Duy Anh viết: “… Chúng ta đã biết Vũng Thơm, Cần Bọt, Sài Mạt là dải đất từ lỵ sở Hà Tiên đến Sài Mít. Tức dải đất bờ biển phía tây nam nước Cao Miên. Còn Chân Sum thì Nhất thống chí (An Giang) chép là núi ở phía nam huyện Hà Âm cách 10 dặm, cách bờ sông Vĩnh Tế ở phía Nam 10 dặm. Huyện Hà Âm là huyện ở phía bắc sông Vĩnh Tế (phía âm của sông) nên gọi tên là thế, đối với huyện Hà Dương là huyện ở phía nam (phía dương của sông). Có thể đất Chân Sum là đất Sóc Sum của tỉnh KamPot.

Về Linh Quỳnh thì Nhất thống chí chép rằng núi Linh Quỳnh thuộc huyện Hà Châu cách 120 dặm và ở phía bắc sông Giang Thành, sông này có hai nguồn ra từ núi Linh Quỳnh. Linh Quỳnh tức địa điểm Linh Quỳnh của tỉnh KamPot nước Cao Miên. (Xem thế thì thấy rằng năm phủ Vũng Thơm, Cần Bọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh ở đời Nguyễn còn là đất của huyện Hà Châu tỉnh Hà Tiên và của huyện Hà Âm tỉnh An Giang, đến đời Tự Đức triều Nguyễn mới trả về nước Cao Miên).”

Ngày 24 tháng 6 năm 1867, tỉnh thành Hà Tiên bị thực dân Pháp chiếm. Sau nhiều năm do dự và phân thiết, địa bàn Hà Tiên được phân bổ ra các đơn vị hành chánh khá phức tạp, theo từng thời điểm khác nhau.

Sau bao biến cố lịch sử, hòn đảo Phú Quốc vẫn luôn là một phần lãnh thổ máu thịt của Việt Nam. Vùng đất giầu có văn hoá và lịch sử của người Việt Nam nằm trong vịnh Thái Lan, gần sát Campuchia, thành phố đảo Phú Quốc ngày nay nhiều tài nguyên du lịch chờ du khách tìm tòi, khám phá và trải nghiệm.                                                                      

Giữa năm 1783 quân Tây Sơn tiếp tục Nam tiến tấn công Nguyễn Nguyễn Ánh (1762-1820), trong thế đường cùng, Nguyễn Ánh cùng tàn quân phải trốn chạy ra đảo Phú Quốc. Chính hòn đảo này đã cưu mang ông để sau này ông quay lại đất liền thu phục binh lực, đánh bại Tây Sơn, lập ra triều Nguyễn vào năm 1802 và lên ngôi hoàng đế, hiệu Gia Long.

Chuyện kể rằng, trong một lần trốn chạy nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh cùng vợ con và binh sỹ phải chạy ra khu vực Mũi Ông Đội, thuộc quần đảo An Thới, Phú Quốc. Đây là một dãy núi lớn chạy ra biển, mũi hướng đông, địa thế khá hiểm trở. Tuy nhiên khi tới đây thì lương thực cạn kiệt, rau củ hái trong rừng cũng không đủ nuôi quân. Tình thế vô cùng khó khăn, nếu di chuyển đi nơi khác thì sẽ bị nghĩa quân Tây Sơn chặn đánh.

Trong lúc lòng quân dao động, Nguyễn Ánh tâm trí rối bời, ông dẫm mạnh chân, cắm phập thanh gươm xuống đất, ngửa mặt lên trời thốt lên: “Nếu trời cho ta làm vua thì hay ban cho ta nước ngọt và lương thực”. Sau tiếng than, nước ngọt bỗng đâu tuôn trào từ mũi gươm vừa cắm xuống. Và cá từ biển khơi bỗng đâu kéo đến đen kín quanh Mũi Ông Đội. Nước ngọt và cá đã giúp cho Chúa Nguyễn cùng binh sỹ vượt qua tình cảnh nguy khốn. Loài cá này từ đó cũng được đặt tên là Cá Cơm.

Mũi Ông Đội nay thuộc thị trấn An Thới, nằm gần khu vực đóng quân của Hải quân Vùng 5. Nơi đây có một eo biển tuyệt đẹp, nước biển trong vắt, cát mịn màng. Hiện có nhiều dự án du lịch lớn đang được đầu tư xây dựng. Du khách đến Mũi Ông Đội để được chụp hình nơi in dấu chân Nguyễn Ánh – Gia Long, uống nước ngọt lành kỳ lạ của Giếng Tiên. Nhiều người mê tín còn tin rằng nước giếng có khả năng chữa bệnh.

Tại đây còn có một “Ngai Vàng” bằng đá nặng hàng tấn, nhìn về hướng Đông. Ngôi đền thờ với dòng chữ “Đức thế tổ Cao Hoàng Đế Vua Gia Long” vẫn ngày đêm thoảng mùi hương khói. Khu vực biển mũi Ông Đội cũng là nơi du khách thỏa thích tắm biển, lặn ngắm san hô, câu cá…

Một nhân vật lịch sử nổi tiếng khác – Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1839 -1868), thủ lĩnh phong trào chống Pháp nửa cuối thế kỷ 19 ở Nam Bộ, lúc lâm nguy cũng đã phải chạy ra đảo Phú Quốc.

Rạng sáng ngày 16/6/1868, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực bất ngờ đánh úp đồn Kiên Giang (nay là khu vực UBND tỉnh Kiên Giang đóng), tiêu diệt 5 viên sỹ quan Pháp, 67 lính, thu nhiều súng đạn. Tuy nhiên sau chiến thắng này, vài ngày sau Bộ chỉ huy Pháp ở Mỹ Tho điều động lực lượng phản công. Do quân địch quá mạnh, Nguyễn Trung Trực phải rút về Hòn Chông (Kiên Lương) rồi vượt biển ra đảo Phú Quốc, đóng quân tại vùng rừng ở xã Cửa Cạn.

Đến tháng 9/1868, Pháp tiếp tục điều động lực lượng hùng hậu ra đảo Phú Quốc truy đuổi nghĩa quân Nguyễn Trung Trực. Nghĩa quân đã chống cự lại quyết liệt hàng tháng trời ròng rã trên đảo. Sau khi bắt được Nguyễn Trung Trực, ngày 27/10/1868, nhà cầm quyền Pháp đã đưa ông ra hành hình tại chợ Rạch Giá. Trước khi hi sinh, ông còn làm thơ và khẳng khái tuyên bố: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây”

Sau khi Nguyễn Trung Trực hi sinh, đình thờ vị anh hùng dân tộc khí phách hiên ngang này mọc lên ở hầu khắp các tỉnh miền Tây. Tại đình thờ ở vùng rừng thuộc ấp 2, xã Cửa Cạn (Phú Quốc), người dân còn xây một ngôi nhà dài để lưu giữ chiếc ghe chiến đấu của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực. Những hiện vật của nghĩa quân cũng được bảo tàng Cội Nguồn trên đảo Phú Quốc trưng bày ở những vị trí trang trọng.

Ở gần cửa sông Cửa Cạn là ngôi mộ Bà Tướng Lớn – vợ của Thần tướng Nguyễn Trung Trực cũng được người dân tôn tạo, trông coi ngày đêm. Dân trên đảo Phú Quốc hiện còn lưu truyền câu chuyện rằng: Vợ Nguyễn Trung Trực sinh con nhưng thiếu sữa cho con bú.

Biết được việc này, quân Pháp ra lệnh hễ ai cho con của Nguyễn Trung Trực bú thì sẽ tru di ba đời. Dân làng ở Cửa Cạn lo sợ đã không dám cho sữa. Đi xin sữa cả làng không ai cho, người vợ của Nguyễn Trung Trực lên thuyền vượt biển vào đất liền để cứu con, nhưng ghe bị mắc cạn và hai mẹ con đã qua đời. Địa danh Cửa Cạn ra đời từ đó.

Sau khi Bà Tướng Lớn qua đời thì tại xã Cửa Cạn, hễ ai sinh con ra cũng không thể nuôi được. Người dân đồn rằng Bà Tướng Lớn hận người đời nên ai sinh con ra là bà bắt đi. Người dân Cửa Cạn muốn nuôi được con thì phải đi nơi khác sinh, hết thời kỳ cho bú mới dám đưa về nhà. Mộ Bà Tướng Lớn được tìm thấy ngày 27/4/1963, ở vùng Đồng Bà, ấp 3, xã Cửa Cạn. Hàng năm vào các ngày 18 và 19/8 âm lịch người dân tổ chức lễ giỗ cúng bà.

Nhà tù Phú Quốc được ví như “Địa ngục trần gian”, được xây dựng từ thời Pháp, rộng khoảng 40 ha, gọi là “Trại Cây Dừa”, giam giữ gần 14 nghìn người.

Cuối năm 1955, tổng thống Ngô Đình Diệm, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà xây dựng một trại giam ở địa điểm Trại Cây Dừa cũ với diện tích 4 ha, chia nhà tù ra thành các khu: Khu nhà giam tù nam, khu nhà giam tù nữ, nhà giam tù phụ lão, đặt tên là “Trại huấn chính Cây Dừa”.

Sử sách ghi lại, năm 1966, chiến tranh leo thang kéo theo số tù binh tăng cao, chính quyền Việt Nam cộng hòa xây dựng thêm một trại giam rộng hơn 400 ha cách trại Cây Dừa cũ 2 km. Tại đây có 12 khu vực, được đánh số từ 1 đến 12. Mỗi khu có 4 phân khu A, B, C, D.

Mỗi phân khu có 9 phòng cho tù binh ở, có 2 phòng để phỏng vấn, phạt vạ hoặc biệt giam tù bình. Mỗi khu giam có diện tích 100 m2, giam giữ từ 70 – 120 người. Khu biệt giam diện tích chỉ với 30m2 nhưng cao điểm có lúc chúng giam tới 180 người hoặc hơn. Xung quanh mỗi phân khu có 4 vọng gác được canh chừng 24/24h và 10 vọng gác lưu động.

Nhà tù được bao bọc bởi 10 lớp thép gai chằng chịt, xung quanh không có cư dân sinh sống, cách biệt hoàn toàn với bên ngoài. Hằng ngày có 2 xe tuần tra liên tục quanh khu giam, ban đêm còn có các toán vào vòng rào giới hạn để kiểm soát lưu động.

Nhà tù Phú Quốc trở thành trung tâm giam tù binh lớn nhất của Việt Nam Cộng Hoà, giam giữ tới 40 nghìn tù binh và có khoảng 4 nghìn chiến sĩ bị giết hại bằng những đòn tra tấn dã man.

Đến với nhà tù Phú Quốc, qua lời giới thiệu của các hướng dẫn viên và tìm hiểu thực tế, ta có thể cảm nhận được sự man rợ của những hình phạt tra tấn khủng khiếp của cai ngục qua mô hình được phục dựng lại. Một trong các món đòn man rợ nhất phải kể đến đóng đinh.

Chúng dùng những chiếc đinh cũ, hoen gỉ dài 3 – 7cm để đóng vào ngón tay, các khớp xương cổ, đầu gối,… sau khi bị đóng đinh, xương của người tù sẽ vỡ vụn ra. Chúng còn dùng đèn cao áp soi vào mắt tù binh đến nổ con ngươi.

Chuồng cọp kẽm gai giam phơi tù nhân ngoài trời cả ngày lẫn đêm. Chiếc chuồng nhỏ hẹp không đứng được cũng không ngồi được, cát bên dưới bỏng rát, bên trên thì kẽm gai cứa da thịt. Ngoài ra, chúng còn bắt tù binh lộn đầu vào vỉ sắt đến trầy da, chảy máu…

Rất nhiều chiến sĩ đã không thể chịu nổi những trận tra tấn man rợ đó và bỏ mạng nơi đây. Ước khoảng 4.000 chiến sĩ mất mạng và hàng chục ngàn chiến sĩ mang theo thương tật, tàn phế cả đời.

Đau đớn và căm phẫn trước sự tàn độc của chúng, các chiến sĩ đã nhiều lần tổ chức vượt ngục. Nổi tiếng nhất là cuộc vượt ngục kỳ tích của hơn 20 chiến sĩ bằng đường hầm (dài 120m, rộng 0,6m) tự đào bằng thìa, miếng sắt trong nhiều tháng gây chấn động.

Năm 1995, khu di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc được công nhận là di tích cấp Quốc gia. Nơi đây chính là bức tranh lột tả chân thực nhất về sự tàn bạo, dã man của kẻ địch. Đến nay, chiến tranh đã đi qua, nhưng nhà tù Phú Quốc vẫn là nỗi ám ảnh của những người chiến sĩ cách mạng và du khách tham quan.

5 điều lầm tưởng về nhà tù Phú Quốc

  1. Nhà tù Phú Quốc không phải nhà tù Côn Đảo
  2. Nhà tù Phú Quốc là di tích lịch sử, đã ngưng hoạt động chứ không phải là nhà giam
  3. Nhà tù Phú Quốc do Pháp xây – Mỹ dùng nhưng Việt trị
  4. Di tích nhà tù Phú Quốc hiện nay không phải là nguyên bản mà được phục dựng
  5. Tại nhà tù Phú Quốc chỉ giam giữ chứ không có chôn người tù.